|
BÀI MỘT: NGHIÊN CỨU TIẾP THỊ TRUYỀN THÔNG ONLINE: CON SỐ BIẾT NÓI THUYẾT PHỤC NHỮNG CÁI ĐẦU KHÓ TÍNH Marketing hiện đại càng có nhiều điều để bàn khi internet phát triển vượt bậc và gần như tạo ra một xã hội thứ hai: giải trí, học tập, chơi game, trao đổi, hội thảo, mua bán…tất cả những hoạt động của chúng ta hằng ngày gần như đều có thể diễn ra trên môi trường thứ hai, đó là internet. Trong marketing hiện đại có bốn chứ 4Ps, Product, Price, Promotion and Place. Nếu theo lý thuyết này, thì e-advertising hay e-marketing chỉ có thể nằm gọn trong chữ P thứ 3 Promotion mà thôi. Nhưng có lẽ do sự bùng nổ của internet để tạo ra một thế ngang bằng trong hai môi trường khác nhau cho nên mọi người thường hay tạm gọi off-line marketing và online marketing. Để nói về nghiên cứu truyền thông online tôi cũng muốn nói sơ qua về nghiên cứu truyền thông cho các kênh truyền thông phổ biến như: tivi, báo chí, radio, quảng cáo ngoài trời, quảng cáo focus media. Đầu tiên cần tìm hiểu như thế nào là nghiên cứu truyền thông? Tại sao phải cần nó và có gì khác biệt giữa nghiên cứu truyền thông thông thường và nghiên cứu truyền thông online. Nghiên cứu truyền thông là hoạt động nghiên cứu tiếp thị thực hiện trên các đối tượng truyền thông nhằm cung cấp cho người làm marketing những thông tin chính xác và đáng tin cậy về số lượng người xem truyền hình, tại địa phương nào, họ hay xem những thể loại gì….? Những thông tin này sẽ rất hữu ích cho người làm marketing trong việc lựa chọn kênh quảng cáo phù hợp với đối tượng khách hàng của họ hay chính xác là phù hợp với chiến lược truyền thông tổng thể của họ. Trong nghiên cứu truyền thông offline (tạm gọi) có những chỉ số chuyên môn để thể hiện những thông tin về thị trường. Các chỉ số thông thường mà dân quảng cáo hay marketing thường đề cập là: rating, GRP, CPRP, reach, effective frequency… Có thể lấy ví dụ về nghiên cứu truyền thông do Saatchi and Saatchi đánh giá về thị trường bia trong chiến dịch rà soát lại toàn bộ tình hình về thị trường, chính sách phân phối, chính sách marketing của nhãn bia Laser trong thời kỳ đầu năm 2005 khi nhãn bia này lâm vào giai đoạn hết sức khó khăn.  Chỉ số rating: là phần trăm khách hàng mục tiêu có cơ hội xem mẫu quảng cáo khi một mẫu quảng cáo được phát hành trong một thời gian xác định. Ví dụ: rating của kênh truyền hình HTV7 trong thời gian (timeslot) từ lúc 9:00 đến 9:15 là 40% cho đối tượng khách hàng Male ABC từ 20-35 tuổi tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Nghĩa là nếu bạn quyết định đầu tư cho một mẫu (spot) quảng cáo trên HTV7 vào thời điểm này thì cơ hội mà khách hàng mục tiêu của bạn tại TP.HCM có thể nhìn thấy (impressed) là 40%. Chỉ số GRP (Gross Rating Point) : là tổng số rating cộng dồn tính luôn những giá trị trùng lắp. Nó thể hiện mức độ đầu tư của nhà quảng cáo cho một chiến dịch cụ thể. Ví dụ:...còn tiếp |